Tin trong nước

Những giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại 

12/06/2026 07:38

 

Thứ nhất, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường trong hoạt động đối ngoại với phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường là một nội dung cốt lõi, xuyên suốt và có ý nghĩa nguyên tắc lãnh đạo cách mạng Việt Nam nói chung, trong hoạt động đối ngoại nói riêng. Theo Người, độc lập, tự chủ trước hết là không lệ thuộc vào bất kỳ thế lực nào, không để bên ngoài chi phối hay can thiệp vào công việc nội bộ của dân tộc; đồng thời, đó còn là sự chủ động, năng lực tự quyết đường lối, chính sách, lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Bởi vậy, độc lập, tự chủ không chỉ là một yêu cầu về chính trị, mà còn là biểu hiện tập trung của bản lĩnh dân tộc và năng lực tự quyết của một quốc gia trong quan hệ quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”(2).

Từ quan điểm chỉ đạo đó có thể thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập trong đối ngoại không chỉ dừng lại ở sự khẳng định chủ quyền quốc gia, mà phải được bảo đảm bằng thực lực tự thân của quốc gia trên tất cả các lĩnh vực cơ bản. Chính vì vậy, trong Lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm độc lập 2-9-1948, Người nhấn mạnh: “Độc lập mà không có quân đội riêng, ngoại giao riêng, kinh tế riêng. Nhân dân Việt Nam quyết không thèm thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy”(3). Luận điểm này thể hiện tư duy nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tính toàn diện, thực chất của nền độc lập: độc lập phải được thể hiện trên tất cả các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế và đối ngoại, nếu không đó chỉ là hình thức bề ngoài, không bảo đảm được quyền tự quyết chân chính của dân tộc.

Có thể là hình ảnh về văn bản

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem độc lập, tự chủ gắn bó hữu cơ với tự lực, tự cường. Độc lập không thể được giữ vững nếu dân tộc không dựa vào sức mình là chính. Trong hoạt động đối ngoại, điều này đòi hỏi phải xuất phát từ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, giữ vững quyền tự quyết về đường lối, đồng thời chủ động, linh hoạt về sách lược, tránh rơi vào tình trạng giáo điều, rập khuôn, hoặc lệ thuộc, theo đuôi các lực lượng bên ngoài. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập, tự chủ hoàn toàn không đồng nghĩa với khép kín, biệt lập hay tự cô lập mình khỏi thế giới. Trái lại, đó là nền tảng để thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đoàn kết và hợp tác quốc tế trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của tinh thần tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính như một nguyên tắc có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, Người nhấn mạnh tinh thần: “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(4), coi đây không chỉ là phương châm hành động cách mạng, mà còn là sự kết tinh tư duy chiến lược về con đường giành và giữ độc lập của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh luận giải một cách cô đọng nhưng rất sâu sắc khi Người khẳng định: “Phải trông ở thực lực… Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”(5). Sức mạnh nội lực là cơ sở quan trọng để bảo đảm tiếp nhận ngoại lực đạt hiệu quả cao nhất: “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(6). Ở đây, tư tưởng tự lực, tự cường không hàm ý phủ nhận vai trò của đoàn kết quốc tế hay sự hỗ trợ từ bên ngoài, mà nhấn mạnh rằng chỉ trên cơ sở phát huy cao nhất nội lực dân tộc thì việc tranh thủ ngoại lực mới có thể đạt hiệu quả thực chất, bền vững và phục vụ lợi ích của cách mạng Việt Nam. Người chỉ rõ: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(7). Tinh thần ấy tiếp tục được Người khái quát thành yêu cầu đối với mỗi người dân trong xã hội: “Mỗi một người dân phải hiểu: có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do”(😎. Qua đó cho thấy, tự lực, tự cường trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là yêu cầu ở tầm quốc gia, mà còn phải trở thành ý thức chính trị, phẩm chất tinh thần và động lực hành động của mỗi cá nhân trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đây cũng chính là cơ sở phát triển phương châm đối ngoại “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, lấy cái không thay đổi ứng phó với muôn vàn thay đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt mục tiêu, lợi ích của quốc gia - dân tộc lên trên hết, mọi chủ trương, đường lối và hoạt động đối ngoại đều bám sát và phục vụ mục tiêu cao nhất của cách mạng. Vì vậy, lấy mục tiêu độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và lợi ích căn bản của dân tộc làm cái bất biến để linh hoạt ứng xử trước những biến chuyển mau lẹ, phức tạp của tình hình khu vực và thế giới.

Thứ hai, luôn có tinh thần hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, thực hiện phương châm “thêm bạn, bớt thù”, kiên quyết đấu tranh chống chiến tranh xâm lược.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hòa bình không chỉ là khát vọng chính đáng của dân tộc Việt Nam, mà còn là giá trị phổ quát của nhân loại tiến bộ. Xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc và từ lập trường cách mạng triệt để, Người luôn đề cao tinh thần hòa hiếu, chủ trương mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ. Người đưa ra nguyên tắc và phương châm chính sách đối ngoại của Việt Nam: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(9). Đây là một tuyên bố mang tính nguyên tắc, thể hiện tư duy đối ngoại rộng mở, nhân văn và nhất quán của Người trong việc xây dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với lập trường kiên quyết chống chiến tranh xâm lược và mọi hình thức áp bức, bất công. Người nhiều lần nhấn mạnh: “Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hòa bình”(10); “Bảo vệ hòa bình tức là chống chiến tranh”(11). Ở đây, hòa bình là kết quả của quá trình đấu tranh kiên định vì chính nghĩa, vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “hòa bình thật sự không thể tách khỏi độc lập thật sự”(12); “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta. Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí”(13).

Từ mục tiêu chiến lược mang tính “bất biến” là độc lập dân tộc gắn liền với hòa bình, hữu nghị và hợp tác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển một hệ thống sách lược đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và từng đối tượng cụ thể. Trên cơ sở giương cao ngọn cờ chính nghĩa, Người chủ trương thực hiện phương châm “thêm bạn, bớt thù”, từng bước phân hóa đối phương, tranh thủ tối đa lực lượng trung gian, cô lập các thế lực hiếu chiến, qua đó tạo lập tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng. Cách tiếp cận này không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược sắc bén, mà còn phản ánh nghệ thuật đối ngoại đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: kết hợp chặt chẽ giữa nguyên tắc và sách lược, giữa kiên định mục tiêu và linh hoạt phương pháp, nhằm tranh thủ thời cơ, tích lũy lực lượng và đưa cách mạng từng bước đi tới thắng lợi.

Thứ ba, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong hoạt động đối ngoại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ hữu cơ với cách mạng thế giới, coi việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là nguyên tắc chiến lược nhằm tạo dựng động lực tổng hợp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng và phát triển đất nước. Theo đó, sức mạnh dân tộc cần được phát huy đồng thời với việc tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài, nhất là sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thời đại.

Trong hoạt động đối ngoại, sự kết hợp này được thể hiện ở việc gắn kết chặt chẽ giữa nội lực và ngoại lực, giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và trách nhiệm quốc tế, qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả tổng thể của công tác đối ngoại. Đối ngoại không chỉ nhằm bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia, dân tộc, mà còn góp phần tích cực vào sự nghiệp chung của nhân loại tiến bộ. Đồng thời, cần triển khai đồng bộ các hình thức và mặt trận đấu tranh, kết hợp linh hoạt giữa kinh tế, chính trị, quân sự và ngoại giao, trong đó quán triệt phương châm “vừa đánh, vừa đàm” trong những hoàn cảnh cụ thể.

Tinh thần xuyên suốt là kiên định nguyên tắc “dựa vào sức mình là chính”, song không tách rời việc chủ động, tích cực tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, các nước anh em và các lực lượng dân chủ, tiến bộ trên thế giới, qua đó tạo nên thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử.

Thứ tư, coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời luôn xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới. Người khẳng định đường lối đối ngoại của Việt Nam là hòa bình, hữu nghị, sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi.

Tư tưởng đó được thể hiện rõ trong “Lời kêu gọi Liên hợp quốc” năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ những nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại của nước Việt Nam: “1- Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai nước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền. 2- Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình. b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế. c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc. d) Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân”(14).

Những quan điểm trên cho thấy tầm nhìn xa, trông rộng và thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạch định đường lối đối ngoại. Đó là đường lối đối ngoại kết hợp chặt chẽ giữa việc kiên định độc lập, tự chủ với chủ động, tích cực mở rộng hợp tác quốc tế; đồng thời bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Trong bối cảnh hiện nay, tư tưởng ấy tiếp tục là “kim chỉ nam” để Việt Nam phát triển quan hệ đối ngoại toàn diện, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

ST